Đánh giá tính mới, phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả của sáng kiến - Phương pháp phát triển ngôn ngữ thông qua giờ kể chuyện cho trẻ 25-36 tháng

1. Giải pháp của sáng kiến được công nhận không trùng với nội dung của giải pháp đã được công nhận trước đó.

Giải pháp 1: Đổi mới thiết kế đồ dùng, đồ chơi

* Điểm mới: Giúp trẻ em kích thích não bộ, phát triển khả năng ngôn ngữ, mang đến cho trẻ thêm nhiều kiến thức về xã hội, cuộc sống để từ đó trẻ có thể tăng thêm vốn từ, phát triển tư duy, trí nhớ…

* Cách thực hiện: Dựa vào kế hoạch từng chủ đề. Chúng tôi cùng với giáo viên trong tổ triển khai kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi một cách cụ thể sao cho sát thực với nhóm, lớp, tổ của mình và có hiệu quả cao.

Tuyên truyền vận động phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu phế thải, đồ vật sẵn có trong cuộc sống hàng ngày để cùng giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi mầm non phục vụ cho các hoạt động.

Học cách làm đồ dùng, đồ chơi mầm non qua mạng internet, sách báo, tập san giáo dục mầm non. Học cách làm đồ dùng, đồ chơi qua việc tham quan học tập các trường bạn

Chúng tôi lựa chọn nguyên vật liệu an toàn, nguyên vật liệu để làm đồ chơi có thể sưu tầm dễ dàng như: Các nguyên vật liệu là phế thải như: hộp sữa, lon bia, xốp, len vụn, vải vụn, gỗ, giấy gói kẹo,….Từ động vật (vỏ sò, lông gà, vỏ hến, vỏ ngao, lông chim…), từ thực vật (gỗ, thân tre, cành cây, rơm rạ, lá cây, quả khô, hột hạt…), từ nguồn vô cơ như (đá, sỏi, đất sét, cát,..). Khi sử dụng các nguyên vật liệu tái chế lựa chọn vật liệu sạch sẽ và an toàn, hộp, vỏ nhựa…phải được rửa sạch, phơi khô để thiết kế đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động qua hình thức kể chuyện theo ý thích hoặc kể chuyện sáng tạo.

Ví dụ: Trong câu chuyện “Cây Táo”. Chúng tôi đã tranh thủ ngoài giờ tận dụng một số nguyên vật liệu phế thải như những mảnh vải vụn màu xanh, màu đỏ để khâu, nhồi tạo thành những quả táo màu sắc rất đẹp mắt.

Ngoài ra tôi đã dùng bìa cứng, xốp, giấy màu, hộp, chai, lọ, nhựa, vải bông, len vụn, các hột, hạt, đĩa CD hỏng …khéo léo cắt tỉa, khâu tạo thành những nhân vật rối dẹt, rối que, rối tay, .... để làm đồ dùng trực quan giới thiệu cho trẻ.

Ví dụ: Với câu chuyện “Thỏ ngoan” tôi dùng vải vụn, bông, hột, hạt…khâu những nhân vật rối như Thỏ, Cáo, bác Gấu để diễn rối tay cho trẻ xem, trẻ rất thích thú chỉ và gọi tên nhân vật đó, trẻ tưởng như các nhân vật đó từ trong tranh truyện bước ra thật gần gũi, ngộ nghĩnh và đáng yêu.

Chúng tôi còn lựa chọn sưu tầm, copy một số hình ảnh phù hợp với nội dung câu chuyện để làm đồ dùng trực quan giới thiệu cho trẻ; tạo thành những cái mũ xinh xắn có gắn những nhân vật mà trẻ yêu thích;

Ví dụ: Cô làm những chiếc mũ gà, vịt, để thưởng cho trẻ chơi vận động “Tìm bạn” Sau khi học xong chuyện :“Đôi bạn tốt”

Cũng với những đồ dùng tự tạo trên tôi chú ý đến việc sử dụng đưa ra giới thiệu cho trẻ bằng nhiều cách khác nhau để dẫn dắt gây hứng thú vào bài.

Ví dụ: Chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” chúng tôi dùng bìa carton để tạo thành mô hình nhà của cô bé quàng khăn đỏ, thiết kế nhân vật trong chuyện, đồ dùng trong gia đình như bàn, ghế, đồng hồ, đèn điện,..Qua đó thu hút trẻ vào tiết học, trẻ biết gọi tên nhân vật, gọi tên đồ dùng trong gia đình nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

* Kết quả: Các cháu rất hứng thú say mê với câu chuyện cô kể và chính nhờ sự say mê đó đã giúp trẻ rất nhiều trong việc hiểu được nội dung câu chuyện, trẻ mạnh dạn tự tin, tích cực gọi tên nhân vật, đồ dùng, đồ chơi… vốn từ của trẻ phát triển, ngôn ngữ của trẻ phong phú hơn

Giáo viên hiểu được ý nghĩa, tác dụng, tầm quan trọng của việc làm đồ dùng đồ chơi đối với hoạt động của trẻ.

Giải pháp 2: Sử dụng trò chơi gây sự hứng thú cho trẻ.

* Điểm mới: Thông qua các trò chơi có tính chất vận động sẽ giúp trẻ có thể lực tốt. Ngoài ra trò chơi còn giúp trẻ phát triển kỹ năng trong cuộc sống, rèn cho trẻ sự khéo léo, nhanh nhẹn, hoạt bát, tạo sự hòa đồng, thân thiện để tâm hồn trẻ phát triển theo chiều hướng tốt hơn. Những lúc được vui chơi sẽ giúp trẻ hào hứng tiếp thu bài học một cách tự nhiên.

* Cách thực hiện: Để tránh tình trạng trẻ bị nhàm chán mệt mỏi khi nghe cô kể chuyện tôi luôn tổ chức đan xen những trò chơi vận động để nhằm thay đổi trạng thái giữa động và tĩnh cho trẻ. Từ nội dung của các mẩu chuyện tôi chuyển sang trò chơi một cách nhẹ nhàng để trẻ thông qua “ Chơi mà học, học mà chơi”.

Ví dụ 1: Trong câu chuyện “Đôi bạn tốt” .Sau khi cung cấp nội dung câu chuyện và đàm thoại cùng trẻ, để thay đổi trạng thái tôi cho trẻ chơi trò chơi: “Làm gà con và vịt con đi kiếm ăn” hoặc chơi “ Tạo dáng đi của con gà, con vịt...”

Ví dụ 2: Trong giờ học kể chuyện “Thỏ con ăn gì”. tôi đã lồng ghép trò chơi: Tìm thức ăn cho thỏ, với mục đích vừa giúp trẻ phân biệt được một số loại rau ăn củ vừa giúp trẻ phát triển thể chất thông qua việc vận chuyển các loại rau ăn củ về cho thỏ.

* Kết quả: Các cháu rất hứng thú và tích cực tham gia các trò chơi, trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó

Giải pháp 3: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin.

* Điểm mới: Việc ứng dụng công nghệ thông tin cuốn hút trẻ trong các hoạt động học bằng các nguồn tài nguyên phong phú trên mạng Internet như hiện nay. Việc lựa chọn sử dụng công nghệ thông tin đúng mức, phù hợp sẽ mang đến những hiệu quả vượt trội trong việc tăng khả năng hứng thú cho trẻ.

* Cách thực hiện: Cách làm của chúng tôi là thường xuyên tham gia bồi dưỡng và tự bồi dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin.

Với công nghệ thông tin chúng tôi có thể sử dụng các phần mềm hỗ trợ trong việc thiết kế các bài giảng điện tử hoặc chương trình powerpoint để soạn các hoạt động cho trẻ chơi và học để gây hứng thú cho trẻ, giúp trẻ đạt hiệu quả cao trong việc phát triển ngôn ngữ nói riêng và phát triển toàn diện nói chung.

Ví dụ: Trong nội dung câu chuyện “Đôi bạn tốt”tôi đã chọn băng đĩa có các con vật như Gà con, Vịt con và Cáo ác. Tôi thấy trẻ rất thích xem hình ảnh đó. Khi gợi cảm xúc trước khi kể chuyện từ những hình ảnh đó trẻ đã học hỏi được nhiều điều và phần nào hiểu được nội dung câu chuyện. Với bài này chúng tôi sử dụng phần mềm powerpoint để soạn giáo án điện tử xuyên suốt cả tiết dạy. Để làm được bài giáo án điện tử chúng tôi cần các tư liệu như: hình ảnh các nhân vật theo nội dung truyện, thu âm giọng kể truyện, tạo video từ ảnh động

Ví dụ: Câu chuyện: “ Chú thỏ Burine” tôi đã xây dựng đoạn phim hoạt hình về nội dung câu chuyện sau đó ghi âm lồng tiếng kể của tôi chèn vào đoạn phim đó kết hợp với nhạc đệm trẻ rất hứng thú. Ngoài ra tôi còn tạo các câu hỏi trên máy cho trẻ trả lời.

Mục đích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là trẻ được trực tiếp xem các hành động, cử chỉ của các nhân vật và qua đó trẻ được tiếp xúc với giọng kể hay với ngôn từ phong phú và đúng với tính cách của các nhân vật. Qua cách làm quen như vậy trẻ biết nhận xét, đánh giá về đặc điểm tính cách của các nhân vật thông qua ngôn ngữ nói của mình. Bên cạnh việc kể chuyện cho trẻ nghe và cho trẻ xem video truyện, tôi còn chú ý đến việc giúp trẻ ghi nhớ cốt truyện với nội dung và các tình tiết chính, các nhân vật chính của câu chuyện thông qua hệ thống câu hỏi.

Ngoài việc sử dụng các hình ảnh sống động trên máy vi tính, lời ghi âm của cô tôi còn ghi âm giọng kể của trẻ khi trẻ kể chuyện. Sau đó tôi dùng dây kết nối giữa điện thoại với loa để bật lại cho trẻ nghe. Ngoài ghi âm giọng kể của trẻ bằng điện thoại tôi còn tận dụng chức năng quay phim để quay lại những vở kịch mà các cháu đã đóng các nhân vật. Qua việc sử dụng điện thoại để quay phim và ghi âm giọng kể của trẻ tôi thấy được hiệu quả rõ ràng, trẻ hào hứng tham gia tập kể và đóng kịch hơn, trẻ biết chau chuốt lời nói của nhân vật và nhập vai tốt hơn. Sau đó tôi mở cho trẻ xem lại vở kịch mà trẻ đóng trẻ được nhận xét các giọng điệu của các nhân vật từ đó trẻ có thể chỉnh sửa lại giọng điệu của mình hay hơn, phù hợp hơn.

Ví dụ: Khi kể chuyện “Con Cáo”, tôi cho trẻ lắng nghe tiếng kêu của một số con vật thông qua máy ghi âm như: mèo, gà, chó... để trẻ tự đoán ra các con vật đó có trong câu chuyện nào.

Ví dụ: Với truyện “ Cháu chào ông ạ” Tôi đã vẽ tranh sau đó dùng máy ảnh kỹ thuật số để chụp ảnh tranh truyện sau đó tôi copy sang máy tính -> Tạo thư mục riêng. Chúng tôi tiến hành tạo các slide. Với những hình ảnh nhân vật tôi đã dùng phần mềm photoshop cắt rời các hình ảnh ra tạo một thư mục riêng. Tôi dùng phần mềm powerpoint làm các hình ảnh xuất hiện đi ra, biến mất nhân vật, chạy từ phải sang trái hoặc từ trái sang phải, đầu cử động. Sau đó kiểm tra bằng cách ấn F5 hoặc nháy chuột vào slide show tiếp đến tạo một tên mới

Ngoài ra, tôi còn lựa chọn một số bài hát phù hợp với từng chủ đề để kích thích hứng thú cho trẻ.

Ví dụ: Trong câu chuyện “Đôi bạn nhỏ”, có thể lồng ghép một số bài hát như: Đàn gà trong sân, Đàn vịt con, Gà gáy, Một con vịt...

Kết quả:* Đối với trẻ: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ giúp trẻ tiếp cận với môi trường đa phương tiện, với nguồn tư liệu mở vô cùng phong phú, đa dạng, thiết kế ra những bài giảng trực quan, sinh động, thu hút được sự chú ý và kích thích sự hứng thú phát âm của trẻ, trẻ chủ động nhiều hơn trong việc khám phá nội dung bài học. Phù hợp với tâm, sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”.

* Đối với giáo viên: Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã giúp tôi tiết kiệm được thời gian và kinh phí cho việc làm đồ dùng vì với giáo viên mầm non hiện nay lượng công việc rất nhiều, vì vậy chúng ta phải tìm biện pháp, phương pháp để giảm bớt thời gian và lượng công việc, nhưng hiệu quả và chất lượng giáo dục phải được đảm bảo thì việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là rất cần thiết.

Giải pháp thứ tư: Tổ chức hình thức thi đua trong giờ học.

Điểm mới: Việc tổ chức hình thức thi đua trong giờ học sẽ kích thích sự quan tâm, chú ý của trẻ. Trẻ sẽ cố gắng thực hiện thật tốt yêu cầu của cô để có thể dành chiến thắng. Vì vậy mà mục tiêu của bài sẽ dễ dàng đạt được.

Cách thực hiện: Cô cho trẻ thi đua giữa các bạn với nhau. Hoặc khi giao lưu sẽ cho trẻ thi đua tổ, giữa nhóm bạn trai với bạn gái để thực hiện các yêu cầu của cô trong tiết học.

Ví dụ: Cô đặt câu hỏi để trẻ trả lời, nếu bạn nào trả lời đúng nhất, nhanh nhất, nói to, rõ ràng thì bạn đó sẽ được tặng một bông hoa điểm thưởng, hoặc 1 tràng pháo tay, còn bạn nào trả lời sai thì bạn khác sẽ giành quyền trả lời. Các con sẵn sàng chưa?

Kết quả: Với cách thực hiện này, trẻ sẽ tích cực chủ động trong suốt tiết học. Không khí tiết học luôn sôi nổi và hào hứng trẻ nói to, rõ ràng, mạch lạc hơn.

Khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến đã được áp dụng và có hiệu quả tại các lớp nhà trẻ 25-36 tháng A1, A3, lớp nhà trẻ A1 trường mầm non Đoàn Kết và có thể áp dụng trong các trường mầm non trên địa bàn thành phố và toàn tỉnh.

docx 7 trang Phương Mai 21/06/2025 820
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tính mới, phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả của sáng kiến - Phương pháp phát triển ngôn ngữ thông qua giờ kể chuyện cho trẻ 25-36 tháng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá tính mới, phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả của sáng kiến - Phương pháp phát triển ngôn ngữ thông qua giờ kể chuyện cho trẻ 25-36 tháng

Đánh giá tính mới, phạm vi ảnh hưởng và hiệu quả của sáng kiến -  Phương pháp phát triển ngôn ngữ thông qua giờ kể chuyện cho trẻ 25-36 tháng
 PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ THÔNG QUA GIỜ KỂ CHUYỆN CHO TRẺ 25-36 
 THÁNG
 ĐÁNH GIÁ TÍNH MỚI, PHẠM VI ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA
 SÁNG KIẾN “MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ THÔNG QUA GIỜ KỂ 
 CHUYỆN CHO TRẺ 25-36 THÁNG A1, A3 TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG 
 THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU”
I. Tính mới của sáng kiến trong phạm vi cấp cơ sở.
1. Giải pháp của sáng kiến được công nhận không trùng với nội dung của giải pháp đã được 
công nhận trước đó.
Giải pháp 1: Đổi mới thiết kế đồ dùng, đồ chơi 
* Điểm mới: Giúp trẻ em kích thích não bộ, phát triển khả năng ngôn ngữ, mang đến cho trẻ 
thêm nhiều kiến thức về xã hội, cuộc sống để từ đó trẻ có thể tăng thêm vốn từ, phát triển tư 
duy, trí nhớ
* Cách thực hiện: Dựa vào kế hoạch từng chủ đề. Chúng tôi cùng với giáo viên trong tổ triển 
khai kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi một cách cụ thể sao cho sát thực với nhóm, lớp, tổ của 
mình và có hiệu quả cao. 
Tuyên truyền vận động phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu phế thải, đồ vật sẵn có trong cuộc 
sống hàng ngày để cùng giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi mầm non phục vụ cho các hoạt động.
Học cách làm đồ dùng, đồ chơi mầm non qua mạng internet, sách báo, tập san giáo dục mầm 
non. Học cách làm đồ dùng, đồ chơi qua việc tham quan học tập các trường bạn
Chúng tôi lựa chọn nguyên vật liệu an toàn, nguyên vật liệu để làm đồ chơi có thể sưu tầm dễ 
dàng như: Các nguyên vật liệu là phế thải như: hộp sữa, lon bia, xốp, len vụn, vải vụn, gỗ, giấy 
gói kẹo,.Từ động vật (vỏ sò, lông gà, vỏ hến, vỏ ngao, lông chim), từ thực vật (gỗ, thân 
tre, cành cây, rơm rạ, lá cây, quả khô, hột hạt), từ nguồn vô cơ như (đá, sỏi, đất sét, 
cát,..). Khi sử dụng các nguyên vật liệu tái chế lựa chọn vật liệu sạch sẽ và an toàn, hộp, vỏ 
nhựaphải được rửa sạch, phơi khô để thiết kế đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động qua hình 
thức kể chuyện theo ý thích hoặc kể chuyện sáng tạo.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Cây Táo”. Chúng tôi đã tranh thủ ngoài giờ tận dụng một số nguyên 
vật liệu phế thải như những mảnh vải vụn màu xanh, màu đỏ để khâu, nhồi tạo thành những 
quả táo màu sắc rất đẹp mắt. 
Ngoài ra tôi đã dùng bìa cứng, xốp, giấy màu, hộp, chai, lọ, nhựa, vải bông, len vụn, các hột, 
hạt, đĩa CD hỏng khéo léo cắt tỉa, khâu tạo thành những nhân vật rối dẹt, rối que, rối tay, .... 
để làm đồ dùng trực quan giới thiệu cho trẻ.
Ví dụ: Với câu chuyện “Thỏ ngoan” tôi dùng vải vụn, bông, hột, hạtkhâu những nhân vật rối 
như Thỏ, Cáo, bác Gấu để diễn rối tay cho trẻ xem, trẻ rất thích thú chỉ và gọi tên nhân vật đó, 
trẻ tưởng như các nhân vật đó từ trong tranh truyện bước ra thật gần gũi, ngộ nghĩnh và đáng 
yêu.
 Chúng tôi còn lựa chọn sưu tầm, copy một số hình ảnh phù hợp với nội dung câu chuyện 
để làm đồ dùng trực quan giới thiệu cho trẻ; tạo thành những cái mũ xinh xắn có gắn những 
nhân vật mà trẻ yêu thích; 
 Ví dụ: Cô làm những chiếc mũ gà, vịt, để thưởng cho trẻ chơi vận động “Tìm bạn” Sau 
khi học xong chuyện :“Đôi bạn tốt” Cũng với những đồ dùng tự tạo trên tôi chú ý đến việc sử dụng đưa ra giới thiệu cho trẻ 
bằng nhiều cách khác nhau để dẫn dắt gây hứng thú vào bài. 
Ví dụ: Chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ” chúng tôi dùng bìa carton để tạo thành mô hình nhà của 
cô bé quàng khăn đỏ, thiết kế nhân vật trong chuyện, đồ dùng trong gia đình như bàn, ghế, 
đồng hồ, đèn điện,..Qua đó thu hút trẻ vào tiết học, trẻ biết gọi tên nhân vật, gọi tên đồ dùng 
trong gia đình nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 
* Kết quả: Các cháu rất hứng thú say mê với câu chuyện cô kể và chính nhờ sự say mê đó đã 
giúp trẻ rất nhiều trong việc hiểu được nội dung câu chuyện, trẻ mạnh dạn tự tin, tích cực gọi 
tên nhân vật, đồ dùng, đồ chơi vốn từ của trẻ phát triển, ngôn ngữ của trẻ phong phú hơn
Giáo viên hiểu được ý nghĩa, tác dụng, tầm quan trọng của việc làm đồ dùng đồ chơi đối với 
hoạt động của trẻ.
Giải pháp 2: Sử dụng trò chơi gây sự hứng thú cho trẻ.
* Điểm mới: Thông qua các trò chơi có tính chất vận động sẽ giúp trẻ có thể lực tốt. Ngoài ra 
trò chơi còn giúp trẻ phát triển kỹ năng trong cuộc sống, rèn cho trẻ sự khéo léo, nhanh nhẹn, 
hoạt bát, tạo sự hòa đồng, thân thiện để tâm hồn trẻ phát triển theo chiều hướng tốt hơn. Những 
lúc được vui chơi sẽ giúp trẻ hào hứng tiếp thu bài học một cách tự nhiên.
* Cách thực hiện: Để tránh tình trạng trẻ bị nhàm chán mệt mỏi khi nghe cô kể chuyện tôi luôn 
tổ chức đan xen những trò chơi vận động để nhằm thay đổi trạng thái giữa động và tĩnh cho trẻ. 
Từ nội dung của các mẩu chuyện tôi chuyển sang trò chơi một cách nhẹ nhàng để trẻ thông qua 
“ Chơi mà học, học mà chơi”.
 Ví dụ 1: Trong câu chuyện “Đôi bạn tốt” .Sau khi cung cấp nội dung câu chuyện và đàm thoại 
cùng trẻ, để thay đổi trạng thái tôi cho trẻ chơi trò chơi: “Làm gà con và vịt con đi kiếm ăn” 
hoặc chơi “ Tạo dáng đi của con gà, con vịt...”
 Ví dụ 2: Trong giờ học kể chuyện “Thỏ con ăn gì”. tôi đã lồng ghép trò chơi: Tìm thức ăn cho 
thỏ, với mục đích vừa giúp trẻ phân biệt được một số loại rau ăn củ vừa giúp trẻ phát triển thể 
chất thông qua việc vận chuyển các loại rau ăn củ về cho thỏ.
* Kết quả: Các cháu rất hứng thú và tích cực tham gia các trò chơi, trẻ tiếp thu kiến thức một 
cách nhẹ nhàng, không bị gò bó
Giải pháp 3: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin.
* Điểm mới: Việc ứng dụng công nghệ thông tin cuốn hút trẻ trong các hoạt động học bằng các 
nguồn tài nguyên phong phú trên mạng Internet như hiện nay. Việc lựa chọn sử dụng công 
nghệ thông tin đúng mức, phù hợp sẽ mang đến những hiệu quả vượt trội trong việc tăng khả 
năng hứng thú cho trẻ.
 * Cách thực hiện: Cách làm của chúng tôi là thường xuyên tham gia bồi dưỡng và tự bồi 
dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin. 
Với công nghệ thông tin chúng tôi có thể sử dụng các phần mềm hỗ trợ trong việc thiết kế các 
bài giảng điện tử hoặc chương trình powerpoint để soạn các hoạt động cho trẻ chơi và học để 
gây hứng thú cho trẻ, giúp trẻ đạt hiệu quả cao trong việc phát triển ngôn ngữ nói riêng và phát 
triển toàn diện nói chung.
Ví dụ: Trong nội dung câu chuyện “Đôi bạn tốt”tôi đã chọn băng đĩa có các con vật như Gà 
con, Vịt con và Cáo ác. Tôi thấy trẻ rất thích xem hình ảnh đó. Khi gợi cảm xúc trước khi kể 
chuyện từ những hình ảnh đó trẻ đã học hỏi được nhiều điều và phần nào hiểu được nội dung 
câu chuyện. Với bài này chúng tôi sử dụng phần mềm powerpoint để soạn giáo án điện tử xuyên suốt cả tiết dạy. Để làm được bài giáo án điện tử chúng tôi cần các tư liệu như: hình ảnh 
các nhân vật theo nội dung truyện, thu âm giọng kể truyện, tạo video từ ảnh động
Ví dụ: Câu chuyện: “ Chú thỏ Burine” tôi đã xây dựng đoạn phim hoạt hình về nội dung câu 
chuyện sau đó ghi âm lồng tiếng kể của tôi chèn vào đoạn phim đó kết hợp với nhạc đệm trẻ rất 
hứng thú. Ngoài ra tôi còn tạo các câu hỏi trên máy cho trẻ trả lời.
Mục đích của việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là trẻ được trực tiếp xem các 
hành động, cử chỉ của các nhân vật và qua đó trẻ được tiếp xúc với giọng kể hay với ngôn từ 
phong phú và đúng với tính cách của các nhân vật. Qua cách làm quen như vậy trẻ biết nhận 
xét, đánh giá về đặc điểm tính cách của các nhân vật thông qua ngôn ngữ nói của mình. Bên 
cạnh việc kể chuyện cho trẻ nghe và cho trẻ xem video truyện, tôi còn chú ý đến việc giúp trẻ 
ghi nhớ cốt truyện với nội dung và các tình tiết chính, các nhân vật chính của câu chuyện thông 
qua hệ thống câu hỏi.
Ngoài việc sử dụng các hình ảnh sống động trên máy vi tính, lời ghi âm của cô tôi còn ghi âm 
giọng kể của trẻ khi trẻ kể chuyện. Sau đó tôi dùng dây kết nối giữa điện thoại với loa để bật lại 
cho trẻ nghe. Ngoài ghi âm giọng kể của trẻ bằng điện thoại tôi còn tận dụng chức năng quay 
phim để quay lại những vở kịch mà các cháu đã đóng các nhân vật. Qua việc sử dụng điện thoại 
để quay phim và ghi âm giọng kể của trẻ tôi thấy được hiệu quả rõ ràng, trẻ hào hứng tham gia 
tập kể và đóng kịch hơn, trẻ biết chau chuốt lời nói của nhân vật và nhập vai tốt hơn. Sau đó tôi 
mở cho trẻ xem lại vở kịch mà trẻ đóng trẻ được nhận xét các giọng điệu của các nhân vật từ đó 
trẻ có thể chỉnh sửa lại giọng điệu của mình hay hơn, phù hợp hơn.
Ví dụ: Khi kể chuyện “Con Cáo”, tôi cho trẻ lắng nghe tiếng kêu của một số con vật thông qua 
máy ghi âm như: mèo, gà, chó... để trẻ tự đoán ra các con vật đó có trong câu chuyện nào.
 Ví dụ: Với truyện “ Cháu chào ông ạ” Tôi đã vẽ tranh sau đó dùng máy ảnh kỹ thuật số để 
chụp ảnh tranh truyện sau đó tôi copy sang máy tính -> Tạo thư mục riêng. Chúng tôi tiến hành 
tạo các slide. Với những hình ảnh nhân vật tôi đã dùng phần mềm photoshop cắt rời các hình 
ảnh ra tạo một thư mục riêng. Tôi dùng phần mềm powerpoint làm các hình ảnh xuất hiện đi ra, 
biến mất nhân vật, chạy từ phải sang trái hoặc từ trái sang phải, đầu cử động. Sau đó kiểm tra 
bằng cách ấn F5 hoặc nháy chuột vào slide show tiếp đến tạo một tên mới
 Ngoài ra, tôi còn lựa chọn một số bài hát phù hợp với từng chủ đề để kích thích hứng thú cho 
trẻ.
 Ví dụ: Trong câu chuyện “Đôi bạn nhỏ”, có thể lồng ghép một số bài hát như: Đàn gà trong 
sân, Đàn vịt con, Gà gáy, Một con vịt...
Kết quả:* Đối với trẻ: Ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ 
cho trẻ giúp trẻ tiếp cận với môi trường đa phương tiện, với nguồn tư liệu mở vô cùng phong 
phú, đa dạng, thiết kế ra những bài giảng trực quan, sinh động, thu hút được sự chú ý và kích 
thích sự hứng thú phát âm của trẻ, trẻ chủ động nhiều hơn trong việc khám phá nội dung bài 
học. Phù hợp với tâm, sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki 
“Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”.
* Đối với giáo viên: Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đã giúp tôi tiết kiệm 
được thời gian và kinh phí cho việc làm đồ dùng vì với giáo viên mầm non hiện nay lượng 
công việc rất nhiều, vì vậy chúng ta phải tìm biện pháp, phương pháp để giảm bớt thời gian và 
lượng công việc, nhưng hiệu quả và chất lượng giáo dục phải được đảm bảo thì việc ứng dụng 
công nghệ thông tin trong giảng dạy là rất cần thiết. Giải pháp thứ tư: Tổ chức hình thức thi đua trong giờ học.
Điểm mới: Việc tổ chức hình thức thi đua trong giờ học sẽ kích thích sự quan tâm, chú ý của 
trẻ. Trẻ sẽ cố gắng thực hiện thật tốt yêu cầu của cô để có thể dành chiến thắng. Vì vậy mà mục 
tiêu của bài sẽ dễ dàng đạt được.
Cách thực hiện: Cô cho trẻ thi đua giữa các bạn với nhau. Hoặc khi giao lưu sẽ cho trẻ thi đua 
tổ, giữa nhóm bạn trai với bạn gái để thực hiện các yêu cầu của cô trong tiết học.
Ví dụ: Cô đặt câu hỏi để trẻ trả lời, nếu bạn nào trả lời đúng nhất, nhanh nhất, nói to, rõ ràng thì 
bạn đó sẽ được tặng một bông hoa điểm thưởng, hoặc 1 tràng pháo tay, còn bạn nào trả lời sai 
thì bạn khác sẽ giành quyền trả lời. Các con sẵn sàng chưa?
Kết quả: Với cách thực hiện này, trẻ sẽ tích cực chủ động trong suốt tiết học. Không khí tiết 
học luôn sôi nổi và hào hứng trẻ nói to, rõ ràng, mạch lạc hơn.
Khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến đã được áp dụng và có hiệu quả tại các lớp nhà trẻ 
25-36 tháng A1, A3, lớp nhà trẻ A1 trường mầm non Đoàn Kết và có thể áp dụng trong các 
trường mầm non trên địa bàn thành phố và toàn tỉnh.
2. Giải pháp của sáng kiến chưa được công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật 
đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được: 
Những giải pháp của sáng kiến chưa có giải pháp nào được công khai trong các văn bản, sách 
báo, tài liệu kỹ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được như sau: Giải pháp gây 
hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện, các trường trên địa bàn thành phố Lai Châu 
hiện nay đã được chú trọng và quan tâm, giáo viên hiểu được tầm quan trọng của việc gây hứng 
thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện, các trường đều đưa các hoạt động của việc gây 
hứng thú cho trẻ 25-36 tháng vào các ngày dạy trong tuần và đã tổ chức các hoạt động thuộc 
lĩnh vực ngôn ngữ nâng cao với nhiều hình thức tổ chức thực hiện khác nhau tùy vào điều kiện 
kinh tế và đặc điểm riêng của địa phương trường mình
Với điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi, nhận được sự quan tâm và ủng hộ của các bậc phụ huynh 
tại địa bàn phường Tân Phong thì nhóm tác giả tại trường mầm non Hoa Hồng đã lựa chọn 4 
giải pháp: 
Linh hoạt, sáng tạo trong các tiết gây hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện thì bản 
thân mỗi giáo viên nhóm tác giả luôn xác định được những kiến thức cơ bản để cung cấp cho 
trẻ, phải đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ. Chính vì vậy trong 
năm học này nhóm chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp cụ thể như sau: 
Giải pháp 1: Đổi mới thiết kế đồ dùng, đồ chơi.
Giải pháp 2: Sử dụng trò chơi gây sự hứng thú cho trẻ.
Giải pháp 3: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin.
Giải pháp thứ tư: Tổ chức hình thức thi đua trong giờ học.
Việc gây hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện tai các trường trên địa bàn thành 
phố Lai Châu hiện nay đã được chú trọng và quan tâm, giáo viên hiểu được tầm quan trọng của 
việc gây hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện với đời sống và sự phát triển của trẻ, 
các trường đã tổ chức các hoạt động gây hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện với 
nhiều hình thức tổ chức thực hiện khác nhau tùy vào điều kiện kinh tế và đặc điểm riêng của 
địa phương trường mình.
Tuy nhiên với điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi, nhận được sự quan tâm và ủng hộ của các bậc 
phụ huynh tại địa bàn phường Tân Phong thì nhóm tác giả tại trường mầm non Hoa Hồng đã lựa chọn bốn giải pháp: Linh hoạt, sáng tạo Lồng ghép gây hứng thú cho trẻ vào các hoạt động 
hàng ngày, các hoạt động giao lưu, các lễ hội, hội thi của trẻ; Nghiên cứu làm đồ dùng, đồ chơi 
cho các hoạt động gây hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện đã đem lại kết quả 
cao, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động phát triển ngôn ngữ trong nhà trường.
Việc gây hứng thú cho trẻ 25-36 tháng trong giờ kể chuyện trên địa bàn thành phố Lai Châu 
hiện nay đã được chú trọng và quan tâm. Giáo viên nắm được các nội dung cần tuyên truyền và 
phối hợp với phụ huynh.
3. Giải pháp sáng kiến chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải 
thực hiện:
Hiện nay chương trình Giáo dục mầm non có đưa ra kết quả mong đợi cho trẻ n ở cuối độ tuổi. 
Song không có hướng dẫn hay quy định về việc gây hứng thú cho trẻ trong giờ kể chuyện, vì 
vậy nhóm tác giả đã linh hoạt lựa chọn và đưa ra các giải pháp thực hiện là hoàn toàn phù hợp 
với thực tiễn. 
II. Sáng kiến đã được áp dụng và mang lại hiệu quả tại cơ sở.
1. Sáng kiến đã được áp dụng tại đâu, thời gian, đối tượng áp dụng, các văn bản chỉ đạo/cam 
kết có liên quan đến việc áp dụng sáng kiến tại các nơi đó.
Sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả cho trẻ 25 -36 tháng A1 Trường Mầm non Đoàn Kết.
Thời gian áp dụng: Từ tháng 9/2022
Đối tượng áp dụng: Giáo viên và học sinh lớp nhà trẻ 25 -36 tháng A1, A3 Trường Mầm non 
Hoa Hồng, lớp nhà trẻ 25 -36 tháng A1 Trường Mầm non Đoàn Kết.
2. Hiệu quả mang lại của sáng kiến 
a. Hiệu quả kinh tế 
Chi phí sử dụng trong các giải pháp ít tốn kém về kinh phí, các giải pháp chủ yếu cho trẻ đóng 
kịch, xem video, hình ảnh, âm thanh có sẵn trên mạng, làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ hoạt động 
được tận dụng từ các nguyên vật liệu có sẵn, nguyên vật liệu phế thải, giáo viên có thể dễ dàng 
thực hiện được bằng các phương tiện điện tử thông thường như: Điện thoại, máy tính, các vật 
thật. 
b. Hiệu quả về mặt xã hội
 + Đối với giáo viên: Bản thân chúng tôi và giáo viên cùng lớp phối hợp thực hiện cũng 
như giáo viên của đơn vị áp dụng thực hiện sáng kiến đã nắm chắc nội dung “Gây hứng thú 
trong giờ kể chuyện cho trẻ”, có nhiều đổi mới, sáng tạo trong tổ chức thực hiện. Chủ động 
trong thực hiện nhiệm vụ được giao, tận tâm, tận lực với học sinh, tâm huyết với sự nghiệp 
trồng người. Có sự sáng tạo, linh hoạt trong việc làm đồ dùng đồ chơi và tổ chức các hoạt động 
giáo dục. Có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức giờ kể chuyện theo quan điểm giáo dục 
lấy trẻ làm trung tâm và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy đã mở ra những 
hướng đi mới trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học. 
 + Đối với phụ huynh: Các bậc phụ huynh luôn tin tưởng và tích cực phối kết hợp tốt với 
giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Tích cực 
hỗ trợ giáo viên trên mọi phương diện, tạo điều kiện để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được 
giao. 
+ Đối với học sinh: Trẻ mạnh dạn tự tin, nói đủ câu, rõ rang, mạch lạc, khả năng nghe, nói phát 
triển, chủ động hơn, hứng thú say mê tham gia vào các hoạt động. Cụ thể : Bảng 3: Bảng kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh lớp nhà trẻ 25-36 tháng A1, A3 sau khi 
thực hiện giải pháp (tháng 2/2023) (Lớp triển khai các biện pháp)
 Kết quả khảo sát học sinh 
 Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng So sánh tỷ 
 Tổng số 
 giải pháp giải pháp lệ
 học sinh
 Stt Số lượng Số lượng Tỷ lệ tăng +) 
 Nội dung Tỷ lệ %
 đạt đạt % giảm(-)
 Trẻ hứng thú tham gia 
 1 20/46 43,47 46/46 100 +56,53
 vào các hoạt động
 Trẻ nói đủ câu, rõ ràng, 
 2 17/46 36,95 40/46 87 +50,05
 mạch lạc. 46
 3 Trẻ mạnh dạn tự tin 21/46 80,7 45/46 98 +17,6
 Khả năng nghe và hiểu 
 4 20/46 43,47 46/46 100 +24
 lời nói
Bảng 4: Bảng kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh nhà trẻ 25-36 tháng A2 (tháng 2/202) - 
(Lớp thực hiện đối chứng)
 Kết quả khảo sát học sinh 
 Trước khi áp dụng Sau khi áp dụng So sánh tỷ 
 Tổng số 
 giải pháp giải pháp lệ
 học sinh
 Stt Số lượng Số lượng Tỷ lệ tăng +) 
 Nội dung Tỷ lệ %
 đạt đạt % giảm(-)
 Trẻ hứng thú tham gia 
 1 11/18 61 15/18 83,3 +22,3
 vào các hoạt động
 Trẻ nói đủ câu, rõ ràng, 
 2 9/18 50 35/46 76 +26
 mạch lạc. 18
 3 Trẻ mạnh dạn tự tin 8/18 44,4 40/46 87 +42,6
 Khả năng nghe và hiểu 
 4 8/18 44,4 42/46 91,3 +46,9
 lời nói
7. Đánh giá lợi ích đã thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham 
gia áp dụng sáng kiến:
Thực hiện các biện pháp này giúp giáo viên nắm chắc nội dung xây dựng “Gây hứng thú trong 
giờ kể chuyện cho trẻ”. Giáo viên có nhiều đổi mới, sáng tạo trong tổ chức thực hiện, tạo dựng 
được các hành vi ứng xử chuẩn mực, tích cực, chủ động trong thực hiện nhiệm vụ được giao, 
tận tâm, tận lực với học sinh, tâm huyết với sự nghiệp trồng người.
 Các bậc phụ huynh luôn tin tưởng và phối kết hợp tốt với giáo viên trong quá trình tổ chức các 
hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Tích cực hỗ trợ giáo viên trên mọi phương diện, 
tạo điều kiện để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 
Trẻ luôn vui vẻ, hạnh phúc, mong muốn được đến trường, đến lớp gặp cô giáo và các bạn. Trẻ 
mạnh dạn tự tin, chủ động hơn, hứng thú say mê tham gia vào các hoạt động. Nơi nhận
 HIỆU TRƯỞNG
- HĐSKt rường MNHH;
 - HĐSK thành phố;
 Nguyễn Thị Toan
 - Lưu VT

File đính kèm:

  • docxdanh_gia_tinh_moi_pham_vi_anh_huong_va_hieu_qua_cua_sang_kie.docx