Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập Truyện Lục Vân Tiên - Trường THCS Thái Sơn

Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu truyện “Lục Vân Tiên”. Trên đường trở về nhà thăm cha mẹ trước khi lên kinh đô thi, gặp bọn cướp đang hoành hành, Lục Vân Tiên đã một mình làm gậy xông vào đánh tan bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga và cô hầu Kim Liên.

Khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ 19 (1850)

ppt 21 trang MinhAnh22 11/10/2025 360
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập Truyện Lục Vân Tiên - Trường THCS Thái Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập Truyện Lục Vân Tiên - Trường THCS Thái Sơn

Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập Truyện Lục Vân Tiên - Trường THCS Thái Sơn
 ÔN TẬP: 
TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN Đọc, chú thích
1. Tác giả:
- Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) sinh tại làng Tân Thới- phủ Tân 
Bình - Gia Định.
- Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu có nhiều đau khổ, bất hạnh: mù 
 loà, công danh không thành, tình duyên trắc trở, gặp buổi loạn li.
- Ông là người có nghị lực sống phi thường, không chịu gục ngã trước 
số phận oann nghiệt. Vẫn ngẩng cao đầu mà sống, sống có ích cho đến 
hơi thở cuối cùng :
+ Là một thầy giáo danh tiếng.
+ Là một thầy thuốc không tiếc sức cứu nhân độ thế.
+ Là một nhà thơ để lại bao trang thơ bất hủ: Lục Vân Tiên, Chạy giặc, 
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. - Luôn nêu cao lòng yêu nước, tinh thần bất khuất chống giặc ngoại 
xâm.
=> Một nhân cách lớn khiến “kẻ thù cũng phải kính nể”.
Dù ở cương vị nào ông cũng làm việc hết mình và để lại môt tấm 
gương sáng cho đời.
Sự nghiệp văn học : gồm hai đề tài chính :
+ Đề tài đạo lí : Truyện Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn đáp
+ Đề tài yêu nước : Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc, Văn tế 
Trương Định
2. Xuất xứ
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu truyện “Lục Vân Tiên”. 
Trên đường trở về nhà thăm cha mẹ trước khi lên kinh đô thi, gặp bọn 
cướp đang hoành hành, Lục Vân Tiên đã một mình làm gậy xông vào 
đánh tan bọn cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga và cô hầu Kim Liên.
Khoảng đầu thập kỷ 50 của thế kỷ 19 (1850) 3. Thể loại
Truyện thơ Nôm – 2082 câu thơ lục bát.
Mang tính chất để kể nhiều hơn để đọc, để xem nên chú trọng đến hành 
động của nhân vật hơn là miêu tả nội tâm, tính cách nhân vật cũng 
được bộc lộ chủ yếu qua việc làm, lời nói, cử chỉ.
 3, Bố cục: 2 phần
 Phần 1: 14 câu đầu: Lục Vân Tiên đánh cưop Phong Lai để cứu Kiều 
 Nguyệt nga
 Phần 2: Còn lại: Cuộc trò chuyện giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt 
 Nga
 - là một thể văn ghi chép sự vật, sự việc. Một thể loại văn vừa có tính văn học, 
 vừa có tính lịch sử lại vừa mang tính triết lí( hiện tượng văn- sử- triết bất phân).
 Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết 
 theo lối chương hồi. 5. Tóm tắt “ Truyện Lục Vân Tiên”: 
Lục Vân Tiên là con một gia đình thường dân ở quận Đông Thành. 
Chàng lên núi tầm sư học đạo, trở thành một con người xuất chúng: văn 
võ kiêm toàn.
 Trên đường xuống núi về kinh ứng thí, Vân Tiên đã đánh tan bọn 
cướp Phong Lai, cứu được Kiều Nguyệt Nga, một thiếu nữ vóc ngọc 
mình vàng. Cảm công đức chàng hiệp sĩ, nàng vẽ bức hình Lục Vân 
Tiên luôn luôn mang theo mình.Vân Tiên ghé thăm gia đình Võ Công - 
người đã hứa gả con gái cho chàng. Vân Tiên gặp Hớn Minh, Vương 
Tử Trực (hai người bạn tốt) và Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, 2 kẻ xấu xa. Ông 
Quán đã nói với 4 sĩ tử về lẽ ghét thương ở đời.
 Sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin nhà. Chàng vội trở về quê 
chịu tang mẹ . Quá đau khổ mà lâm bệnh, hai mắt bị mù, Vân Tiên bị 
bọn lang băm, phù thủy, thầy bói lừa gạt lấy hết tiền; Trịnh Hâm đẩy 
xuống sông hãm hại. Vân Tiên được con giao long và ngư ông cứu 
thoát. Vân Tiên trở lại nhà Võ Công, bị hắt hủi và bị bỏ vào hang sâu 
cho chết. Vân Tiên được thần núi và ông Tiều cứu ra, gặp lại Hớn Minh, 
người bạn nghĩa hiệp. Vương Tử Trực đỗ thủ khoa, tìm đến nhà Võ Công hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý gả con gái cho Vương 
Tử Trực, nhưng đã bị chàng mắng nhiếc, y quá nhục mà chết.
 Kiều Nguyệt Nga nghe tin Vân Tiên gặp nạn đã qua đời, nàng vô 
cùng thương tiếc, nguyền sẽ thủ tiết. Tên thái sư trong triều hiến kế cho 
nhà vua bắt đem Kiều Nguyệt Nga cống cho giặc Ô Qua. Nàng đã ôm 
theo bức hình Lục Vân Tiên nhảy xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm 
đã cứu sống Kiều Nguyệt Nga; sau đó nàng lại dạt vào vườn hoa nhà họ 
Bùi. Bùi Công muốn nhận Kiều Nguyệt Nga làm con nuôi, nhưng Bùi 
Kiệm lại nằng nặc đòi lấy nàng làm vợ. Kiều Nguyệt Nga bỏ trốn, 
nương nhờ lão bà ở giữa rừng sâu.
 Lục Vân Tiên nhờ thuốc tiên mà đôi mắt sáng lại. Chàng vội trở lại 
quê nhà: thăm cha, viếng mộ mẹ, thăm Kiều Công. Chàng lại đi thi, đậu 
Trạng nguyên; vua sai đi dẹp giặc Ô Qua. Trên đường chiến thắng trở 
về, Lục Vân Tiên bất ngờ gặp lại Kiều Nguyệt Nga, hai người mừng 
mừng tủi tủi.
 Lục Vân Tiên trở lại triều đình, tậu hết sự tình đầu đuôi. Tên thái sư 
và bọn gian ác bị trừng phạt, những người nhân nghĩa được đền đáp. 
Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga nên vợ nên chồng, sống cuộc đời 
hạnh phúc, vinh hiển.. II. Kiến thức trọng tâm
 1. Nhân vật Lục Vân Tiên.
 - Nhân vật Lục Vân Tiên được khắc hoạ theomô típ ở truyện Nôm truyền thống: Một 
 chàng trai khôi ngô tuấn tú, tài giỏi cứu một cô gái thoát nạn, rồi từ ân nghĩa đến 
 tình yêu. Mô típ này thể hiện khát vọng, mong ước của nhân dân và tác giả về một 
 xã hội có những con người tài đức, luôn sẵn sàng ra tay giúp người, giúp đời,
 - Lục Vân Tiên là một nhân vật lý tưởng và mơ ước của Nguyễn Đình Chiểu. 
 Đây là một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đầy hăm hở 
 muốn lập công danh, mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời. Tình huống 
 đánh cướp là thử thách đầu tiên, là cơ hội hành động cho chàng. a. Khi đánh cướp Phong Lai :
 * Như một vị hảo hán mang tinh thần nghĩa hiệp :
 “Vân Tiên ghé lại bên đàng
 Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô
 Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ”
 Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”
- Hành động gan góc, mau lẹ « bẻ cây làm cậu gậy » chứng tỏ 
chàng, không do dự, không màng an nguy của bản thân.
 -> Hành động nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên trước hết bộc lộ tính cách 
 anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Lục Vân Tiên. Vẻ đẹp của 
 Lục Vân Tiên là vẻ đẹp riêng của con người dũng tướng. Thấy bọn 
 cướp hại người, kẻ khác có thể né tránh, giữ mình, còn Vân Tiên coi đó 
 là tình huống, cơ hội đầu tiên để hành động. Chàng chỉ có một mình, 
 trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng: 
 “Người đều sợ nó, có tài không đương”. Vậy mà Vân Tiên vẫn can đảm 
 “bẻ cây làm gậy” xông vào đánh cướp. ”. a. Khi đánh cướp Phong Lai :
 * Một vị anh hùng quả cảm có võ nghệ cao cường :
 Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
 “Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
 Trước gây việc dữ tại mầy,
 Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”
 Vân Tiên tả đột hữu xông,
 Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
- Nguyễn Đình Chiểu đã đặt chàng vào một trận đánh không cân 
sức : một bên là tướng cướp hùng hổ, hung dữ, đông đúc được trang 
bị đầy đủ vũ khí ; với một bên là thân cô, thế cô.
 - Nghệ thuật tương phản, so sánh đã được tác giả sử dụng để tô đậm sự 
 quả cảm của Lục Vân Tiên.
 - Nghệ thuật tương phản, so sánh đã được tác giả sử dụng để tô đậm sự 
 quả cảm của Lục Vân Tiên. a. Khi đánh cướp Phong Lai :
 ->Lục Vân Tiên mang tầm vóc của người anh hùng mạnh mẽ, phi 
 thường. Sức mạnh của Lục Vân Tiên là sức mạnh kết tinh của nhân 
 dân, của chính nghĩa nên nó chiến thắng tuyệt đối. Hành động 
 mạnh mẽ của Vân Tiên thể hiện được khát vọng của nhân dân về 
 một người anh hùng có sức mạnh phi thường, võ nghệ cao cường 
 luôn bênh vực kẻ yếu, chiến thắng thế lực bạo tàn.
 b . Khi trò chuyện với Kiều nguyệt Nga :
 - Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp trước tiên bộc 
 lộ tấm lòng từ tâm nhân hậu. 
 + Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên “động lòng” tìm 
 cách an ủi họ: “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi han, cho thấy 
 chàng rất đàng hoàng, chững chạc. 
 + Lối xưng hô « nàng- ta » cho thấy tấm lòng trân trọng mà Lục Vân 
 Tiên dành cho Kiều Nguyệt Nga, cũng như thái độ lịch sự của một con 
 người có học, có đọc sách thánh hiền. - Bên cạnh đó, ta thấy, chàng là con người chính trực, hào hiệp, 
 khiêm tốn, giản dị, trọng nghĩa khinh tài :
Vân Tiên nghe nói liền cười:
 “Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
 Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
 Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
 Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
 Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.
 - Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên đã gạt đi ngay, từ chối 
 cả lời mời về thăm nhà Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp. Dường như 
 với Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên của một 
 con người chân chính
 -> hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp, là hình ảnh lý tưởng mà 
 Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình. 2. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga.
 a. Một cô gái thuỳ mị, nết na, có học thức :
- Thể hiện qua những lời giới thiệu bản thân của nàng :
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
- Nàng xuất thân trong một gia đình quyền quý, là tiểu thư khuê các lá 
ngọc cành vàng, trâm anh thế phiệt: con quan tri phủ Hà Khê.
 - Thể hiện qua lối xưng hô của nàng với Lục Vân Tiên:
 Trước xe quân tử tạm ngồi,
 Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
 ->Cách xưng hô “quân tử”, “tiện thiếp” kết hợp với hành động “lạy” 
 và “thưa”, cách nói năng văn vẻ, mực thước, khuôn phép cho thấy sự 
 khiêm nhường, thùy mị, nết na của nàng. - Thể hiện qua lời chia sẻ về hành động hiếu nghĩa nàng làm:
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.
-> Nàng là người con hiếu thảo, sống đúng với khuôn phép gia đình 
 và với lễ giáo phong kiến. Đó cũng chính là điểm gặp gỡ giữa nàng 
 và Lục Vân Tiên. Kiều Nguyệt Nga để lại một ấn tượng tốt đẹp: 
 thùy mị, nết na, gia giáo, thông minh sắc sảo, có học thức.
 b. Một con người đằm thắm, ân tình, cư xử có trước có sau. 
 - Với nàng, Vân Tiên không chỉ cứu mạng, mà còn cứu cả cuộc đời 
trong trắng của nàng: “Lâm nguy chẳng gặp giải nguy – Tiết trăm năm 
cũng bỏ đi một hồi”. Nàng coi đó là ơn trọng và áy náy, băn khoăn tìm 
cách trả ơn dù biết rằng có đền đáp bao nhiêu cũng chưa đủ: “Lấy chi 
cho phải tấm lòng cùng ngươi”. Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện 
gắn bó cuộc đời với chàng trai hào hiệp ấy, dám liều mình để giữ trọn 
ân tình thuỷ chung với chàng.
 -> Kiều Nguyệt kết tinh cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ truyền 
 thống. Nàng không chỉ gia giáo, nết na, có học thức mà còn rất đằm 
 thắm, nghĩa tình. ĐỀ 1: Cho đoạn thơ sau:
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn
Nay đà rõ đặng nguồn cơn
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.” ( Ngữ văn 9 – Tập I/NXB GD )
Câu 1: Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm nào? Của ai?
Câu 2: Lời của Vân Tiên được trích dẫn theo cách nào? Vì sao em 
biết? 
Câu 3: Trong đoạn thơ, Vân Tiên đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp 
gì? 
Câu 4: Em hiểu nội dung 2 câu thơ sau như thế nào? 
“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi 
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.” 
Câu 5: Có ý kiến cho rằng ngày nay hành động nghĩa hiệp như Vân 
Tiên có khi lại mang phiền toái vào thân. Hãy viết một văn bản ngắn 
(Khoảng 1 trang giấy thi) trình bày ý kiến của em về vấn đề trên. Câu 1: Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu 
Câu 2: Trực tiếp. 
Có dấu hai chấm, dấu ngoặc kép.
 Câu 3: Vô tư, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, trọng danh dự. 
 Câu 4: Thấy việc nghĩa không làm thì không xứng đáng là người 
 anh hùng. 
 Câu 5: Trình bày được ý kiến, quan điểm của mình về vấn đề đặt ra. 
 Đồng ý hay không?. Tại sao?
 Biết đưa ra nhận thức đúng. Lập luận chặt chẽ. 
 Có bố cục ba phần, hành văn trôi chảy. Đề 2: Cho hai câu thơ sau:
 "Nhớ câu kiến ngãi bất vi 
 Làm người thế ấy cũng phi anh hùng 
".
Câu 1: Em hãy viết đoạn văn giới thiệu về tác giả và cho 
biết ý nghĩa của hai câu thơ trên?
Câu 2: Qua đoạn trích "Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga", 
ta thấy nhà thơ đã gửi gắm quan niệm về người anh hùng 
thông qua nhân vật Lục Vân Tiên. Hãy viết một bài văn ngắn
trình bày suy nghĩ của em về người anh hùng trong thời đại 
ngày nay. a- Mở đoạn: giới thiệu khái quát về Nguyễn Đình Chiểu , và hai câu 
thơ.
b - Thân đoạn:
 * Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn cuả dân tộc, mãi mãi 
xứng đáng là ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ Việt Nam thế kỷ XI 
X , để lại cho đời nhiều tác phẩm văn chương có giá trị, nhất là truyện 
Lục Vân Tiên ...
 - Lục Vân Tiên là người anh hùng lý tưởng của nhà thơ mù 
yêu nước. Chiến công đánh cướp của chàng mãi là bài ca hùng tráng 
của người anh hùng trong xã hội loạn lạc .Vân Tiên đã thể hiện một 
cách ứng xử vô cùng cao thượng và hào hiệp. Người đẹp băn khoăn 
về chuyện" báo đức thù công " thì Vân Tiên 'liền cười " rồi đĩnh đạc 
nói :
 "Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
 Làm người thế ấy cũng phi anh hùng ". * Ý nghĩa của hai câu thơ : 
Hai câu thơ tác giả thể hiện một quan niệm đạo lý người anh hùng là 
người sẵn sàng làm việc nghĩa một cách vô tư, không tính toán làm 
việc nghĩa là bổn phận, là lẽ tự nhiên. Đó là cách cư xử mang tinh 
thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán .
 c-Kết đoạn: Nguyễn Đình Chiểu đã đề cao tinh thần nhân 
nghĩa , ca ngợi lý tưởng anh hùng vị nghĩa cao đẹp. Quan niệm đó gắn 
với đạo lý làm người, hướng về nhân dân. Đó là bài học sâu sắc nhất 
mà ta cảm nhận được... Câu 2:
 - Giải thích khái niệm người anh hùng: là người thấy hoạn nạn sẵn 
 sàng cứu giúp vô tư đem lại điều tốt đẹp cho mọi người; người anh 
 hùng phải là người hành động vì chính nghĩa, vì lẽ phải, vì lẽ công 
 bằng.
 - Chỉ ra các biểu hiện: bênh vực, che chở cho những người yếu đuối, 
không có khả năng tự vệ (cứu người bị nạn trong trường hợp nguy cấp: 
đuối nước, hỏa hoạn, bị tấn công...); dám đứng lên bảo vệ lẽ công bằng, 
quyền lợi chính đáng của mọi người, của tập thể, của một cá nhân bị 
xâm phạm...; đấu tranh chống lại những cái xấu xa, tội lỗi, những hiện 
tượng tiêu cực (đấu tranh chống tội phạm, tham ô, lãng phí...)
 - Ý nghĩa: Luôn được mọi người yêu mến, tôn trọng, khâm phục; mang 
 lại niềm vui, hạnh phúc cho con người; làm cho đất nước phát triển và 
 xã hội tốt đẹp hơn... - Bàn luận nâng cao: Bên cạnh đó, vẫn có những kẻ hèn nhát, không 
dám đấu tranh chống lại những hiện tượng tiêu cực vì sợ trả thù, sợ 
ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân,... => làm ảnh hưởng đến sự 
phát triển của xã hội...
- Biện pháp phát huy: Giáo dục lối sống lành mạnh, tinh thần dũng 
cảm, biểu dương những tấm gương, những việc làm cao thượng vì lợi 
ích của cộng đồng, của con người...
 - Liên hệ bản thân: Cần rèn luyện tinh thần vượt khó vươn lên, tích 
cực đấu tranh với những thói quen xấu của bản thân, biết quan tâm, 
chia sẻ, yêu thương mọi người, dám nhận và sửa chữa những lỗi lầm 
của mình...

File đính kèm:

  • pptbai_giang_ngu_van_9_bai_on_tap_truyen_luc_van_tien_truong_th.ppt