Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Chị em Thúy Kiều - Trường THCS Thái Sơn

-Tả Kiều, tác giả không cụ thể như khi tả Vân mà chỉ đặc tả đôi mắt theo lối điểm nhãn - vẽ hồn cho nhân vật, gợi lên vẻ đẹp chung của một trang giai nhân tuyệt sắc. Vẻ đẹp ấy làm cho hoa ghen, liễu hờn, nước nghiêng thành đổ. Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kị hay ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp đó, cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyến rũ, cuốn hút lạ lùng.
ppt 15 trang MinhAnh22 11/10/2025 180
Bạn đang xem tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Chị em Thúy Kiều - Trường THCS Thái Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Chị em Thúy Kiều - Trường THCS Thái Sơn

Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Chị em Thúy Kiều - Trường THCS Thái Sơn
 ÔN TẬP: 
CHỊ EM THÚY KIỀU
 Tác giả: Nguyễn Du I. Kiến thức cơ bản
1. Vị trí đoạn trích :
Vị trí đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”: nằm ở phần mở đầu của phần 
thứ nhất: gặp gỡ và đính ước. Khi giới thiệu gia đình Thuý Kiều, tác 
giả tập trung miêu tả tài sắc hai chị em thuý vân, Thuý Kiều.
2. Bố cục đoạn trích: 4 phần
+ Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thuý Kiều.
+ Bốn câu tiếp: gợi tả vẻ đẹp Thuý Vân.
+ Mười hai câu còn lại: gợi tả vẻ đẹp thuý Kiều.
+ Bốn câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em. II. Kiến thức trọng tâm
 1. Bốn câu đầu: giới thiệu khái quát về nhân vật.
 - Với bút pháp ước lệ, tác giả đã gợi được vẻ thanh cao, duyên dáng, trong trắng 
 của người thiếu nữ ở hai chị em Thuý Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” 
 cốt cách như mai, tinh thần như tuyết. Đó là vẻ đẹp hoàn hảo mang tính hình 
 thể, tâm hồn cả hai đều đẹp “mười phân vẹn mười” nhưng mỗi người lại 
 mang vẻ đẹp riêng
 2. Bốn câu tiếp theo: miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân.
 - Câu thơ mở đầu vừa giới thiệu Thuý Vân vừa khái quát vẻ đẹp của nhân vật. 
 Hai chữ “trang trọng” gợi vẻ cao sang, quý phái.
- Với bút pháp nghệ thuật ước lệ, vẻ đẹp của Vân được so sánh với những thứ cao 
 đẹp nhất trên đời, trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc. Bằng thủ pháp liệt kê chân dung 
 Thúy Vân được miêu tả toàn vẹn từ khuôn mặt, nét mày, làn da, mái tóc đến nụ 
 cười, giọng nói, phong thái ứng xử nghiêm trang, đứng đắn. Mỗi chi tiết được 
 miêu tả cụ thể hơn nhờ hình ảnh so sánh ẩn dụ và ngôn ngữ thơ chọn lọc, chau 
 chuốt.
- Chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách, số phận. Vân đẹp hơn những gì 
 mĩ lệ nhất của thiên nhiên nhưng tạo sự hoà hợp êm đềm với xung quanh: mây 
 thua, tuyết nhường. Thuý Vân hẳn có một tính cách ung dung, điềm đạm, một 
 cuộc đời bình yên không sóng gió. 3. 12 câu tiếp theo: tả vẻ đẹp và tài hoa của Kiều.
 - Câu thơ đầu đã khái quát đặc điểm của nhân vật: “Kiều càng sắc 
 sảo mặn mà”. Nàng sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn.
- Gợi tả vẻ đẹp của Kiều tác giả vẫn dùng những hình tượng ước lệ: 
thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu. 
-Tả Kiều, tác giả không cụ thể như khi tả Vân mà chỉ đặc tả đôi mắt 
theo lối điểm nhãn - vẽ hồn cho nhân vật, gợi lên vẻ đẹp chung của một 
trang giai nhân tuyệt sắc. Vẻ đẹp ấy làm cho hoa ghen, liễu hờn, nước 
nghiêng thành đổ. Nguyễn Du không miêu tả trực tiếp nhân vật mà 
miêu tả sự ghen ghét, đố kị hay ngưỡng mộ, say mê trước vẻ đẹp đó, 
cho thấy đây là vẻ đẹp có chiều sâu, có sức quyến rũ, cuốn hút lạ lùng. - Vẻ đẹp tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao quý, cái tài, cái tình đặc 
biệt của Kiều. 
Tác giả đặc tả tài đàn – là sở trường, năng khiếu, nghề riêng của nàng 
“Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một 
trương”. Không chỉ vậy, nàng còn giỏi sáng tác nhạc. Cung đàn Bạc 
mện của Kiều là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm “Khúc nhà 
tay lựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”. Tả tài, 
Nguyễn Du thể hiện được cả cái tình của Kiều.
- Chân dung Thuý Kiều là bức chân dung mang tính cách và số phận. 
Vẻ đẹp khi cho tạo hoá phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị, tài 
hoa trí tuệ thiên bẩm "lai bậc" đủ mùi, cả cái tâm hồn đa sầu đa cảm 
khiến Kiều không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, 
gian khổ bởi "Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau". "Trời xanh quen 
thói mà hồng đánh ghen". Cuộc đời Kiều hẳn là cuộc đời hồng nhan bạc 
mệnh.
Tác giả miêu tả chân dung Thuý Vân trước để làm nổi bật chân dung Thuý Kiều, ca 
ngợi cả hai nhưng đậm nhạt khác nhau ở mỗi người: chỉ dành bốn câu thơ để tả Vân, 
trong đó dành tới 12 câu thơ để tả Kiều, Vân chỉ tả nhan sắc, Kiều cả tài , sắc, tình đều 
đặc đặc tả. Đó chính là thủ pháp đòn bẩy. 4. 4 câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống hai chị em Thuý Kiều.
- Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh, theo đúng khuôn khổ 
của lễ giáo phong kiến. Tuy cả hai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm 
nhưng vẫn "trướng rũ màn che, tường đông ong bướm đi về mặc ai".
- Hai câu cuối trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọc cho hai chị 
em hai bồn hoa vẫn còn phong nhuỵ trong cảnh "Êm đềm trướng rủ 
màn che".
Tóm lại, đoạn trích đã thể hiện bút pháp miêu tả nhân vật đặc sắc của 
Nguyễn Du khắc hoạ nét riêng về nhan sắc, tài năng, tính cách, số phận 
nhân vật bằng bút pháp nghệ thuật cổ điển. ĐỀ 1:Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có viết:
“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
( Trích Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Câu 1: Câu thơ trên được trích từ đoạn trích nào của Truyện kiều, nêu 
vị trí của đoạn trích đó ?
Câu 2: Hai câu thơ trên, mỗi câu nói về nhân vật nào?
Câu 3: Hai cách miêu tả sắc đẹp của hai nhân vật ấy có gì giống và 
khác nhau? Sự khác nhau ấy có liên quan gì đến tính cách và số phận 
của mỗi nhân vật?
Câu 4: Từ câu chủ đề sau: “Khác với Thúy Vân, Thuý Kiều có vẻ đẹp 
sắc sảo, mặn mà cả tài lẫn sắc”. Hãy viết tiếp khoảng 10 câu văn để 
hoàn thành một đoạn văn theo cách Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp. Câu 1: Hai câu thơ trên được trích từ văn bản “Chị em 
Thúy Kiều”. 
- Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của phần gặp gỡ và đính 
ước.
Câu 2: Hai câu thơ trên, câu đầu nói về Thúy Vân, câu sau 
nói về Thuý Kiều.
Câu 3:
- Giống nhau: Tả nhan sắc hai nàng như vậy là Nguyễn Du 
đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, một bút pháp quen 
thuộc của thơ ca cổ điển – dùng để tả nhân vật chính diện –
lấy cái đẹp của tự nhiên để so sánh hoặc ngầm ví với cái đẹp 
của nhân vật. Từ đó tôn vinh cái đẹp của nhân vật. Ta dễ 
dàng hình dung nhan sắc của mỗi người. Thúy Vân tóc 
mượt mà, óng ả hơn mây, da trắng hơn tuyết. Còn Thuý 
Kiều, vẻ tươi thắm của nàng đến hoa cũng phải ghen, đến 
liễu phải hờn. * Khác nhau:
- Tả Thúy Vân: Tác giả miêu tả Thúy Vân cụ thể từ khuôn 
mặt, nét mày, màu da, nước tóc, miệng cười, tiếng nói để 
khắc họa một Thúy Vân đẹp, đoan trang, phúc hậu.
- Tả Thúy Kiều: Nêu ấn tượng tổng quát (sắc sảo, mặn 
mà), đặc tả đôi mắt. Miêu tả tác động vẻ đẹp của Thuý 
Kiều. Vẻ đẹp sắc sảo, thông minh của Thuý Kiều làm cho 
hoa, liễu phải hờn ghen, làm cho nước, thành phải nghiêng 
đổ Þ tác giả miêu tả nét đẹp của Kiều là để gợi tả vẻ đẹp 
tâm hồn Thúy Kiều.
- Thông điệp nghệ thuật: Qua cái đẹp ấy, tác giả còn dự 
báo cho số phận của mỗi người. Thuý Vân đẹp đoan trang, 
phúc hậu, sẽ có một số phận may mắn, hạnh phúc. Còn 
Thuý Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà sẽ có số phận đầy giông tố, 
bất hạnh. Câu 4: * Đoạn văn tham khảo : (1) Khác với Thúy Vân, Thuý Kiều 
có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà cả tài lẫn sắc. 
(2) Vẻ đẹp ấy được gợi tả qua đôi mắt Kiều, bởi đôi mắt là sự thể hiện 
phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. 
(3) Hình ảnh ước lệ “làn thu thuỷ” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên 
thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt. 
(4) Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên 
đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ trung.
(5) Vẻ đẹp quá hoàn mĩ và sắc sảo của Kiều có sức quyến rũ lạ lùng 
khiến thiên nhiên không thể dễ dàng chịu thua, chịu nhường mà phải 
nảy sinh lòng đố kỵ, ghen ghét ð báo hiệu lành ít, dữ nhiều- “Hoa ghen 
thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
(6) Không chỉ mang một vẻ đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành”, Kiều 
còn là một cô gái thông minh và rất mực tài hoa:
“Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương” (7) Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mỹ phong 
kiến, gồm đủ cả cầm (đàn), kỳ (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ). 
(8) Đặc biệt nhất vẫn là tài đàn của nàng, đã là sở trường, năng khiếu 
(nghề riêng), vượt lên trên mọi người (ăn đứt).
(9) Đặc tả cái tài của Kiều cũng là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng: 
Cung đàn “bạc mệnh” mà Kiều tự sáng tác nghe thật da diết buồn 
thương, ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm.
(10) Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc – tài – tình. Tác giả dùng 
thành ngữ “nghiêng nước, nghiêng thành” để cực tả giai nhân, đồng 
thời là lời ngợi ca nhân vật.
(11) Chân dung của Thuý Kiều cũng là chân dung mang tính cách số 
phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá phải ghen ghét, phải đố kị “hoa 
ghen, liễu hờn” nên số phận nàng sẽ éo le, đau khổ.
(12) Như vậy, chỉ bằng mấy câu thơ trong đoạn trích, Nguyễn Du đã 
không chỉ miêu tả được nhân vật mà còn dự báo được trước số phận 
của nhân vật; không những truyền cho người đọc tình cảm yêu mến 
nhân vật mà còn truyền cả nỗi lo âu phấp phỏng về tương lai số phận 
nhân vật. ĐỀ 2:Cho đoạn thơ sau:
Kiều càng sắc sảo mặn mà..Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân
Câu 1: Em hiểu thế nào về hình tượng “thu thủy”, “xuân sơn”. Cách 
nói “làn thu thủy, nét xuân sơn” là cách nói ẩn dụ hay hoán dụ? Vì sao?
Câu 2: Dụng ý của tác giả trong câu “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn 
kém xanh”? Theo em có nên thay thế từ “hờn” bằng từ “buồn” được 
không?
Câu 3: Qua cung đàn của Thúy Kiều (ở câu thơ cuối đoạn trích) em 
hiểu thêm gì về nhân vật này?
Câu 4: Qua đoạn trích, tác giả Nguyễn Du bày tỏ tình cảm gì với nàng 
Kiều?
Câu 5: Chép chính xác một câu thơ trong bài thơ em đã học trong 
chương trình ngữ văn THCS nói về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã 
hội phong kiến.
Câu 6: Viết đoạn văn quy nạp khoảng 10 câu để phân tích nghệ thuật 
miêu tả ngoại hình nhân vật của Nguyễn Du trong đoạn trích. Trong 
đoạn văn có sử dụng câu ghép và phép thế. Câu 1: - Thu thủy: làn nước mùa thu.
 - Xuân sơn: nét núi mùa xuân.
 Cả câu thơ sử dụng hình ảnh mang tính ước lệ và biện pháp ẩn dụ gợi 
 lên đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt như làn nước mùa thu, 
 đôi lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân.
 Câu 2: - Vẻ đẹp của Thúy Kiều là vẻ đẹp của một trang tuyệt thế 
giai nhân, vẻ đẹp khiến “hoa ghen”, “liễu hờn”.
 - Nguyễn Du không miêu tả nhân vật mà miêu tả sự ghen ghét, đố kị 
 hay ngưỡng mộ, say mê vẻ đẹp đó.
 - Vẻ đẹp của Thúy Kiều là vẻ đẹp có sức hút, chiều sâu đến lạ lùng.
 - Không thể thay thế từ “hờn” bằng từ “buồn” bởi từ 
 “buồn” không làm nổi bật được tính chất hờn ghen hiểm 
 họa của tự nhiên trước vẻ đẹp của Thúy Kiều. Câu 3: Cung đàn của nàng Kiều là “cung thương lầu bậc ngũ âm” -
cung đàn bạc mệnh của Kiều là tiếng của trái tim đa cảm.
 - Tâm hồn Kiều đa sầu đa cảm khiến Kiều không thể tránh khỏi số 
phận nghiệt ngã, éo le, gian khổ của bởi “chữ tài chữ mệnh khéo là 
ghét nhau” và trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Câu 4:
 - Tác giả ngợi ca vẻ đẹp của Thúy Kiều - một trang tuyệt thế giai 
nhân có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành.
 - Tác giả cũng bày tỏ sự thương xót, lo lắng trước vận mệnh của 
Thúy Kiều.
 - Một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo ấy là đoạn 
trích ca ngợi đề cao những giá trị, phẩm chất con người như nhan 
sắc, tài hoa, nhân phẩm, khát vọng, ý thức về nhân phẩm, thân phận.
 Câu 5:
Câu thơ nói về vẻ đẹp của người phụ nữ xã hội phong kiến:
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”
(Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương) Câu 6:Đoạn văn tham khảo: Đoạn trích Chị em Thúy Kiều thể hiện bút
pháp miêu tả nhân vật đặc sắc của Nguyễn Du, khắc họa nét riêng về
nhan sắc, tài năng, tính cách, số phận nhân vật bằng bút pháp nghệ thuật
cổ điển. Tác giả sử dụng bút pháp tượng trưng để gợi tả vẻ đẹp nhan sắc,
tài năng, tâm hồn, qua mỗi bức chân dung đều gửi gắm những dự báo về
cuộc đời và số phận. Qua hai bức chân dung về Thúy Vân và Thúy
Kiều, tác giả đều thể hiện thái độ trân trọng ngợi ca nhưng ông ưu ái
dành nhiều câu thơ miêu tả bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật cả về
nhan sắc và tài năng. Cái tài của tác giả là từ việc miêu tả ngoại hình
nhân vật làm hiện lên vẻ đẹp về tính cách và tâm hồn đằng sau những tín
hiệu ngôn ngữ là dự báo về số phận con người. Thúy Vân: vẻ đẹp khiến
tự nhiên nhường nhịn nên nàng chắc chắn cuộc đời nàng êm đềm.Thúy
Kiều: vẻ đẹp khiến tự nhiên danh ghét, ghen tị, chắc chắn cuộc đời gặp
nhiều sóng gió, gập ghềnh. Tác giả sử dụng những hình ảnh tươi đẹp
nhất, ngôn từ hoa mĩ để xây dựng, miêu tả vẻ đẹp của con người đạt tới
mức lý tưởng. Đó cũng chính là cảm hứng nhân đạo cao cả xuất phát từ
tấm lòng đồng cảm với mọi người.
- Phép thế: Nguyễn Du- tác giả. - Câu ghép:

File đính kèm:

  • pptbai_giang_ngu_van_9_bai_on_tap_van_ban_chi_em_thuy_kieu_truo.ppt