Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Làng - Trường THCS Thái Sơn

Kim Lân kể lại: “Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán. Trên khu ở mới, có tin đồn làng tôi là làng Việt gian. Mọi người đều nhìn những người dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường. Tôi yêu ngôi làng của tôi và không tin làng tôi lại có thể đi theo giặc Pháp. Tôi viết truyện ngắn “Làng” như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan cho làng tôi”.
ppt 28 trang MinhAnh22 11/10/2025 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Làng - Trường THCS Thái Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Làng - Trường THCS Thái Sơn

Bài giảng Ngữ văn 9 - Bài: Ôn tập văn bản Làng - Trường THCS Thái Sơn
 ÔN TẬP VĂN BẢN: LÀNG
 Kim Lân I. Kiến thức cơ bản
1. Tác giả: Kim Lân 
- Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, (1920-2007), quê ở huyện 
Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo 
trước Cách mạng tháng Tám 1945. Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc 
cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng 
quê và cảnh ngộ của người nông dân.
 - Phong cách nghệ thuật : Kim Lân có một lối viết tự nhiên, chậm 
 rãi, nhẹ nhàng, hóm hỉnh và giàu cảm xúc ; cách miêu tả rất gần 
 gũi, chân thực. Đặc biệt ông có biệt tài phân tích tâm lí nhân vật. 2. Tác phẩm:
a. Hoàn cảnh sáng tác:
– “Làng” được viết và đăng báo trên tạp chí Văn nghệ năm 1948 –
giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Kim Lân kể lại: “Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán. Trên khu ở mới, 
có tin đồn làng tôi là làng Việt gian. Mọi người đều nhìn những người 
dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường. Tôi yêu ngôi làng của 
tôi và không tin làng tôi lại có thể đi theo giặc Pháp. Tôi viết truyện 
ngắn “Làng” như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan 
cho làng tôi”.
 - Đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. c. Thể loại:
 Truyện ngắn
 d. Ngôi kể
 - Truyện được kể theo ngôi thứ ba.
 - Tác dụng : làm cho câu chuyện trở nên khách quan và tạo cảm 
 giác chân thực cho người đọc.
 e. Chủ đề
 Tình yêu quê hương, đất nước. g. Ý nghĩa nhan đề:
- Xuyên suốt tác phẩm, nhà văn kể về làng chợ Dầu nhưng không 
lấy tên tác phẩm là « Làng chợ Dầu ». Nếu lấy tên tác phẩm là 
« Làng chợ Dầu » thì câu chuyện sẽ trở thành chuyện riêng của 
một cái làng cụ thể ; ông Hai sẽ trở thành người nông dân cụ thể 
của làng chợ Dầu ấy. Như vậy, chủ đề tư tưởng của truyện bị bó 
hẹp, không mang ý nghĩa khái quát.
 - Tác giả đã sử dụng một danh từ chung là « Làng » mang ý nghĩa khái 
 quát để đặt tên cho tác phẩm. Đó sẽ là câu chuyện về những làng quê 
 nước ta trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp; ông Hai sẽ trở 
 thành nhân vật biểu tượng cho người nông dân Việt Nam yêu làng, yêu 
 nước. Như vậy, chủ đề tư tưởng, ý nghĩa của truyện được mở rộng. II. Kiến thức trọng tâm
 1. Tình huống truyện: 
 a. Khái niệm tình huống truyện: 
 - Tình huống truyện là một hoàn cảnh có vấn đề xuất hiện trong tác phẩm. Trong 
 hoàn cảnh đó, nhân vật sẽ có hành động bộc lộ rõ nhất, điển hình nhất bản tính 
 của mình. Tính cách nhân vật sẽ rõ, chủ đề tác phẩm sẽ bộc lộ trọn vẹn. 
 b. Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”: 
 - Tình huống truyện đặc sắc: khi ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo 
 giặc.
 - Ý nghĩa của tình huống truyện:
 + tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu 
 làng, yêu nước ở ông Hai. 
 + Về mặt kết cấu của truyện: tình huống này phù hợp với diễn biến của truyện, tô 
 đậm tình yêu làng, yêu nước của người nông dân Việt Nam mà tiêu biểu là 
 nhân vật ông Hai.
 + Về mặt nghệ thuật : tình huống truyện đã tạo nên một cái thắt nút cho câu 
 chuyện, tạo điều kiện để bộc lộ mạnh mẽ tâm trạng và phẩm chất của nhân 
 vật, góp phần thể hiện chủ đề của tác phẩm. 2. Diễn biến tâm trạng của ông Hai
a. Trước khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc
- Trước Cách mạng tháng Tám: Ông tự hào, hãnh diện về làng và kể về nó với 
 niềm say mê, náo nức đến lạ thường: Ông khoe con đường làng lát đá xanh, trời 
 mưa đi chẳng lấm chân; ông khoe sinh phần của một vị quan tổng đốc trong 
 làng;...
- Khi kháng chiến bùng nổ: ông khoe về một làng quê đi theo kháng chiến làm 
 cách mạng; ông kể một cách rành rọt những hố, những ụ, những giao thông hầm 
 hào;...
- Khi buộc phải tản cư, ông Hai đã rất nhớ về làng: 
+ Ông thường xuyên chạy sang nhà bác Thứ để kể lể đủ thứ chuyện về làng, để vơi 
 đi cái nỗi nhớ làng.
+ Ông kể cho sướng cái miệng, cho vơi cái lòng mà không cần biết người nghe có 
 thích hay không.
+ Nhớ làng da diết – muốn về làng, muốn tham gia kháng chiến. 
+ ông nghe được những tin chiến thắng của quân ta -> Ruột gan ông cứ múa cả lên. 
=> Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó 
với làng quê và cuộc kháng chiến. Ông yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và 
có trách nhiệm với cuộc kháng chiến của làng. b. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:
 – Khi nghe tin xấu ông Hai sững sờ, bàng hoàng, xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão 
 nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở 
 được”. 
 ->Từ đỉnh cao của niềm vui,niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau 
 đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ,tan tành 
 trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với 
 ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc 
 của riêng ông, cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.
- Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm,khiến 
ông vô cùng đau khổ và tủi nhục. 
 +Ông vờ lảng ra chỗ khác, rồi về thẳng nhà. 
 +Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông " cúi gằm mặt mà đi“.
 + Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ 
 giàn ra”. 
 + Trong trạng thái khủng hoảng, giận dữ ông nắm chặt hai tay mà rít : "chúng bay ăn 
 miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để 
 nhục nhã thế này".
 + Cáu gắt vô cớ với ba Hai.
 + Niềm tin bị phản bội, những mối nghi ngờ bùng lên và giằng xé trong ông: " ông 
 kiểm điểm từng người trong óc". - Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, khiến 
ông vô cùng đau khổ và tủi nhục. 
+Ông vờ lảng ra chỗ khác, rồi về thẳng nhà. 
+Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông " cúi gằm mặt mà đi“.
+ Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ 
giàn ra”. 
+ Trong trạng thái khủng hoảng, giận dữ ông nắm chặt hai tay mà rít : "chúng bay 
ăn miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để 
nhục nhã thế này".
+ Cáu gắt vô cớ với ba Hai.
+ Niềm tin bị phản bội, những mối nghi ngờ bùng lên và giằng xé trong ông: " ông 
kiểm điểm từng người trong óc".
=> Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn 
người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như 
chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các 
con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy. - Ông Hai mang tâm trang lo lắng, day dứt và tâm trí luôn bị ám ảnh
 + Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. 
 +Ông quanh quẩn ở nhà,nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám 
 đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa,ông cũng 
 chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, 
 người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. 
 +Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông là ông lủi 
 ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!” 
 ⇒ Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi 
 thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước 
 cái tin làng mình theo giặc. - Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. 
+ Ông lo cho số phận của những đứa con rồi sẽ bị khinh bỉ, hắt hủi vì là trẻ con 
làng Việt gian: "Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng 
bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu".
+ Ông lo cho bao nhiêu người tản cư làng ông sẽ bị khinh, tẩy chay, thù hằn, ghê 
tởm: " Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian!... Suốt cái nước Việt Nam này 
người ta ghê tởm, người ta thù hận cái giống Việt gian bán nước"
+ Ông lo cho tương lai của gia đình rồi sẽ đi đâu, về đâu, làm ăn sinh sống ra 
sao: "Rồi đi biết làm ăn, buôn bán làm sao? Ai người ta chứa".
- Sự lựa chọn ông Hai.
 “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.
 ->Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể 
 mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con 
 người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình 
 cảm chung của cả cộng đồng. 
 => Quyết định của ông Hai đã khẳng định tình yêu nước mạnh mẽ, thiêng liêng, 
 rộng lớn, bao trùm lên tình cảm của làng quê. Điều gì đã khiến ông có sự lựa 
 chọn dứt khoát đó? Phải chăng chính niềm tin vào Đảng, cách mạng, kháng chiến 
 đã hướng ông có được sự lựa chọn đó. - Nhưng dù đã dứt khoát như thế, ông vẫn không thể dứt bỏ tình 
cảm với nơi mà ông đã sinh ra, lớn lên và gắn bó gần hết cuộc đời. 
Bởi vậy, ông muốn được tâm sự với đứa con bé bỏng, như để phân 
bua, để minh oan, để làm vơi đi phần nào những khổ tâm đã dằn vặt 
ông bấy lâu nay
.
-> Đó là một cuộc trò chuyện đầy xúc động. Nỗi nhớ quê, yêu quê, nỗi 
đau đớn khi nghe tin quê hương theo giặc cứ chồng chéo đan xen trong 
lòng ông lão. Nhưng trong ông vẫn cháy lên một niềm tin tưởng sắt đá, 
tin tưởng vào Cụ Hồ, tin tưởng vào cuộc kháng chiến của dân tộc. 
Niềm tin ấy đã phần nào giúp ông có thêm nghị lực để vượt qua khó 
khăn này. Dường như ông Hai đang nói chuyện với chính mình, đang 
giãi bày với lòng mình và cũng như đang tự nhắc nhở: hãy luôn “Ủng 
hộ Cụ Hồ Chí Minh”. Tình quê và lòng yêu nước thật sâu nặng và 
thiêng liêng. c. Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải 
 chính. 
+ Thái độ của ông thay đổi hẳn “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ 
hẳn lên”. 
+Ông lại chạy đi khoe khắp nơi “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch 
làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! 
Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.
 – Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh 
 làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất 
 dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà 
 ông đang được đón nhận. 
 ->Ông Hai chỉ là một người nông dân bình thường như bao người nông 
 dân khác nhưng ông đã biết hy sinh tài sản riêng của mình cho kháng 
 chiến. Điều này cho thấy cuộc kháng chiến chống Pháp đã đi sâu vào 
 tiềm thức của người dân để trở thành cuộc kháng chiến toàn dân.
 =>Như vây, cái tin cải chính đã trả lại cho ông tình yêu, niềm tự hào 
 sâu sắc về làng. Nó đã xây dựng lên trong ông những " bức tường 
 thành" vững chắc mà không súng đạn nào có thể công phá, cháy rụi 
 được. III. Gía trị nội dung và nghệ thuật
1. Nội dung:.
 Truyện thể hiện chân thực, sinh động tình cảm yêu làng quê thống 
 nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai.
2. Nghệ thuật:
-Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách.
-Xây dựng cốt truyện tâm lí ( đó là chú trọng vào các tình huống 
bên trong nội tâm nhân vật).
-Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc,tinh tế.
-Ngôn ngữ đặc sắc,sinh động, mang đậm chất khẩu ngữ, gần với lời 
ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân. IV. LUYỆN TẬP ĐỀ SỐ 1
Đọc phần trích sau rồi trả lời câu hỏi “Có người hỏi: 
- Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà? 
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! 
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm.chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: 
- Hà, nắng gớm, về nào 
Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. Tiếng cười nói xôn xao của đám người mới tản cư lên cứ vẫn dõi theo. 
Ông nghe rõ cái giọng chua lanh lảnh của người đàn bà cho con bú: 
- Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó! Đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương. Cái giống Việt gian bán nước thì cứ 
cho mỗi đứa một nhát! 
Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi.Ông thoáng nghĩ đến mụ chủ nhà. 
Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lén đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm 
chơi sụi với nhau. 
Nhìn lũ con tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người 
ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu” (Trích Làng – Kim Lân) 
Câu 1: Xác định nội dung của phần trích trên? 
Câu 2: Tâm trạng đau đớn, tủi hổ của ông Hai được biểu hiện qua những chi tiết nào trong phần trích. 
Câu 3: Xác định ngôn ngữ độc thoại và độc thoại nội tâm có trong đoạn trích trên? Các hình thức ngôn ngữ 
ấy có tác dụng thế nào trong việc thể hiện diễn biến tâm lí nhân vật ông Hai? 
Câu 4: Trong hai lời thoại được in đậm sau, phương châm hội thoại nào đã không được tuân thủ 
“Có người hỏi: - Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà? 
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! 
Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm. chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to: 
-Hà, nắng gớm, về nào 
Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng. [] 
Câu 5: Từ tình yêu làng quê gắn liền với tình yêu đất nước của nhân vật ông Hai và câu nói của nhà văn I-
li-a Ê-ren-bua: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dãi trường giang Von-ga, con sông Von-ga đi ra biển. 
Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu làng quê trở nên lòng yêu Tổ quốc” Hãy viết một văn bản nghị luận 
ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về lòng yêu nước Câu 1: Nội dung của phần trích: Tâm trạng đau đớn tủi hổ của ông Hai 
khi nghe mọi người chửi làng Chợ Dầu của ông việt gian bán nước 
Câu 2: Xác định những chi tiết: vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi đi 
thẳng, cúi gằm mặt xuống mà đi, nằm vật ra giường, nước mắt giàn 
ra.
 Câu 3: Độc thoại: - Hà, nắng gớm, về nào
 Độc thoại nội tâm: Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? 
 Chúng nó cũng bị người ta rẻ rung hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng 
 ấy tuổi đầu 
 * Tác dụng: Khắc họa sâu sắc tâm trạng đau đớn, dằn vặt của ông 
 Hai; làm cho câu chuyện sinh động hơn 
 Câu 4:
 Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy! : vi pham phương châm về 
 chất
 Hà, nắng gớm, về nào : vi phạm phương châm quan hệ Câu 5:
Yêu cầu về kỹ năng 
- Nắm phương pháp làm văn nghị lận xã hội 
- Bố cục rõ ràng 
- Biết vận dụng các phương pháp nghị luận 
- Văn phong trôi chảy, trong sáng, lập luận chặt chẽ, thuyết phục 
Yêu cầu về kiến thức 
Giới thiệu được vấn đề nghị luận: lòng yêu quê hương, đất nước. 
Lòng yêu nước là gì? 
- Nêu được một vài biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước. (có dẫn chứng) 
+ Trong lịch sử 
+ Trong hoàn cảnh đất nước, xã hội hiện nay 
+ Biểu hiện về lòng yêu nước ở một học sinh. 
- Bàn bạc mở rộng và phê phán mặt trái của vấn đề. 
3. Khẳng định ý kiến, quan điểm của bản thân về lòng yêu nước và nêu 
phương hướng hành động. ĐỀ SỐ 2: Đọc đoạn trích dưới đây và trả lời câu hỏi từ 1 đến 3:
“Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm 
(1). Chả lẽ cái bọn ở làng lại đổ đốn đến thế được (2). Ông kiểm điểm 
từng người trong óc (3). Không mà, họ toàn là những người có tinh 
thần cả mà (4). Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, 
có đời nào lại can tâm làm cái điều nhục nhã ấy!...(5)”
Câu 1: Đoạn trích trên nằm trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
Câu 2: “Ông lão” trong đoạn trích trên là nhân vật nào? Điều “nhục 
nhã” được nói đến là điều gì?
Câu 3: Trong đoạn trích trên, những câu văn nào là lời trần thuật của 
tác giả, những câu văn nào là lời độc thoại nội tâm của nhân vật? 
Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật? Câu 1: Đoạn văn trên nằm trong tác phẩm Làng.- Tác giả là Kim Lân.
 Câu 2:
 - "Ông lão" trong đoạn trích trên là nhân vật ông Hai.
 - "Điều nhục nhã" được nói đến là làng Chợ Dầu theo giặc.
 Câu 3:
 - Những câu văn là lời trần thuật của tác giả: (1), (3).
 - Những câu văn là lời độc thoại của nội tâm của nhân vật: (2), (4), (5).
 - Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng của ông Hai: băn 
 khoăn, day dứt nhưng vẫn tin tưởng vào lòng trung thành của người 
 dân làng Chợ Dầu với cách mạng.
 . ĐỀ 3
“Dứt lời ông lão lại lật đật đi thẳng sang gian bác Thứ.Chưa đến bực cửa, ông lão đã 
bô bô:- Bác Thứ đâu rồi? bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn! Ông 
chủ tịch làng tôi vừa lên trên này cải chính, ông ấy cho biết... cải chính cái tin làng Chợ 
Dỗu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.Bác Thứ 
chưa nghe thủng câu chuyện ra sao, ông lão lại lật đật bỏ lên nhà trên.- Tây nó đốt nhà 
tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. ông chủ tịch làng em vừa lên cải chính... cải chính cái tin 
làng Chợ Dầu chúng em Việt gian ấy mà. Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai 
sự mục đích cả!Cũng chỉ được bằng ấy câu, ông lão lại đật bỏ đi nơi khác”. 
( Ngữ văn 9 – tập 1)
Câu 1: Đoạn trích trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? Nêu hoàn cảnh sáng tác?
Câu 2: Xác định từ xưng hô trong đoạn trích?
Câu 3: Tìm lời dẫn của nhân vật có trong đoạn trích. Cho biết đó là lời dẫn trực tiếp 
hay gián tiếp?
Câu 4: Ông Hai nói: ”Làng chợ Dầu chúng em Việt gian” - tác giả sử dụng nghệ thuật 
gì? 
Câu 5: Nêu nội dung của đoạn trích trên?
Câu 6: Tại sao tác giả lại để ông Hai nói “sai sự mục đích”?
Câu 7: Nhân vật ông lão trong đoạn truyện trên nhà bị tây đốt thế mà lại đi thông báo 
với mọi người như khoe về một chiến công. Hãy nêu cảm nhận của em về hành động 
đó.

File đính kèm:

  • pptbai_giang_ngu_van_9_bai_on_tap_van_ban_lang_truong_thcs_thai.ppt